Huyết áp được coi là thấp khi chỉ số tâm thu (tối đa)dưới 90 mmHg, tâm trương dưới 60 mmHg. Sự chẩn đoán của chứng bệnh này phải được thường xuyên theo dõi với Bác sĩ hoặc qua những trung tâm Y tế. Nếu ở mức độ nhẹ, huyết áp thấp không cần phải điều trị. Tuy nhiên, chứng bệnh này có thể gây ra một số căn bệnh nguy hiểm cho tim, khiến người bệnh bị ngất, choáng và còn dẫn tới một số bệnh liên quan đến hệ thần kinh, tuyến nội tiết. Khi ảnh hưởng đến những cơ quan quan trọng, giảm huyết áp sẽ làm cho các cơ quan này thiếu hụt oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến tình trạng cơ thể bị “shock”, choáng, đe dọa đến tính mạng. Dưới đây là cách đo huyết áp tại nhà, giúp bạn chủ động hơn trong cách điều trị các bệnh về huyết áp
Huyết áp bao nhiêu là bình thường?
Trị số huyết áp phụ thuộc vào áp lực bơm máu của tim, sức co dãn của thành mạch máu và lượng máu trong cơ thể. Trị số huyết áp bình thường dao động từ 90/50 – 139/89mmHg (là trị số huyết áp tâm thu/huyết áp tâm trương) và thay đổi thường xuyên tuỳ theo các trạng thái thời gian, hoạt động thể lực và cảm xúc.
Để đo huyết áp được chính xác, điều trước tiên phải bảo đảm là cái máy đo phải có chất lượng tốt. Hiện trên thị trường có rất nhiều loại máy đo huyết áp điện tử dành cho người bệnh thực hành ở nhà. Phổ biến nhất là máy đo cổ tay và đo cánh tay. Chọn loại nào tuỳ điều kiện mỗi người. Tuy nhiên khi mua nên so sánh kết quả đo từ huyết áp kế điện tử với huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế thuỷ ngân xem có tương đương không. Trong thời gian sử dụng cũng phải kiểm tra pin định kỳ. Không làm máy rơi rớt hay va đập mạnh, không làm ướt máy. Nếu không dùng trong một thời gian dài thì phải tháo pin ra, cất máy nơi khô mát.
Làm gì trước khi đo?
– Trước khi đo huyết áp không nên uống cà phê, trà quá đậm hay hút thuốc lá… Mỗi người nên có một cuốn sổ nhỏ ghi lại ngày giờ và kết quả đo, gồm: huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa, thường là số đo đầu tiên); huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu, thường là số đo thứ hai) và nhịp tim (mạch, thường có biểu tượng trái tim trên máy).
– Không nên đo quá nhiều lần trong ngày nếu không cần thiết. Có thể đo vào mỗi sáng hay tối tuỳ theo đặc điểm cao huyết áp từng người; hoặc đo khi có triệu chứng bất thường như chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, mệt…
Tư thế đo thế nào là đúng?
– Có thể nằm hoặc ngồi, nghỉ ít nhất năm phút trước khi bắt đầu đeo túi hơi (nhiều người hay gọi miếng quấn) vào tay. Nếu đo ngồi, lưng phải thẳng, hai chân để trên sàn nhà (không được bắt chéo chân), tay đặt ngang tầm với tim. Trong khi đo không nên nói chuyện. Đo huyết áp tư thế đứng, thường áp dụng trong một số trường hợp nghi ngờ có hạ huyết áp tư thế. Tay chọn đo nên là tay trái.
Tư thế đo huyết áp
– Túi hơi phải có kích thước phù hợp (bao được ít nhất 80% cánh tay). Túi hơi đặt ở mặt trước của cánh tay và sao cho ống nghe (được cấu tạo sẵn trong dây đo) nằm ngay trên động mạch cánh tay, cách xa túi hơi càng tốt. Nếu ngồi đo thì nên để khuỷu tay thẳng, tốt nhất là đặt một chiếc gối nhỏ dưới khuỷu tay. Trong lúc đo, tay thả lỏng hoàn toàn, không được gồng hay nâng lên hạ xuống. Nếu máy đo báo lỗi hay huyết áp bị nghi ngờ là không chính xác, chỉ được đo lại sau 15 phút.
Kết quả đo nào phải gặp bác sĩ ngay?
Với những trường hợp sau thì nên đến gặp bác sĩ ngay, không tự uống thuốc hay ngồi chờ đến đúng ngày hẹn tái khám:
– Kết quả đo không phù hợp với triệu chứng hiện có. Chẳng hạn như bệnh nhân chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn… nhưng kết quả vẫn bình thường.
– Kết quả đo được quá cao hay quá thấp.
Với người đang có bệnh huyết áp, không nên tự đo và tự uống hay ngưng thuốc mà không đi tái khám trong thời gian dài, ngay cả khi kết quả cho thấy huyết áp ổn định.
Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Vậy, huyết áp là thứ phải tồn tại đương nhiên trong cơ thể con người giống như áp lực nước trong lòng mương, ống nước…Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu hoặc ngắn gọn là số trên), bình thường từ 90 đến 139 mm Hg (đọc là milimét thuỷ ngân). Huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương hoặc ngắn gọn là số dưới), bình thường từ 60 đến 89 mm Hg.
Các Tin Liên Quan
