Biến chứng sau của bệnh nhồi máu cơ tim

Ngày: 06-01-2011

Nhồi máu cơ tim là một cấp cứu khẩn trương; sự sống còn của người bệnh quyết định bởi có được cấp cứu kịp thời, đúng cách hay không. So với cơn đau thắt ngực thì nhồi máu cơ tim là tình trạng trầm trọng và nguy hiểm hơn nhiều. Có thể gọi nhồi máu cơ tim như một hậu quả, một kết thúc xấu, một biến chứng cấp mang tính tai biến và nhồi máu cơ tim cũng để lại rất nhiều biến chứng nguy hiểm.


Biến chứng sau của bệnh nhồi máu cơ tim

Các biến chứng sau nhồi máu cơ tim được chia làm 3 loại: biến chứng sớm, biến chứng thứ phát và biến chứng muộn.

Biến chứng sớm

Hội chứng Dressler – một biến chứng thứ phát sau nhồi máu cơ tim.
Suy tim: Thường gặp trong 2 tuần đầu, nhất là trên những bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim cũ, hoặc trên những người bị thể nặng, rộng, có cơn đau kéo dài.

Trụy mạch biểu hiện bằng huyết áp tụt, mạch nhanh, yếu, vã mồ hôi.

Suy tim trái cấp tính biểu hiện bằng cơn khó thở kịch phát, phù phổi cấp, mạch nhanh, tiếng ngựa phi.

Rối loạn nhịp tim:
Nhịp nhanh xoang hay gặp. Nếu nhanh nhiều và kéo dài thì tiên lượng xấu.

Ngoại tâm thu hay gặp, nhất là khi nhồi máu cơ tim mới bắt đầu. Ngoại tâm thu nhiều, đa dạng có tiên lượng xấu.

Cơn nhịp nhanh kịch phát ít gặp hơn nhưng rất nguy hiểm vì có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng, đặc biệt với cơn nhịp nhanh thất. Thường xảy ra trong nhồi máu cơ tim nặng thể lan rộng. Loạn nhịp hoàn toàn gặp trong 10 – 15% trường hợp.

Rối loạn dẫn truyền nhĩ – thất gặp trong 4% trường hợp nhất là trong nhồi máu cơ tim sau. Thường xuất hiện sớm. Blốc nhĩ thất hoàn toàn thường nặng.

Tai biến tắc nghẽn mạch:
Gặp trong 20 – 40% trường hợp, đặc biệt trong các thể nặng. Chủ yếu là:

Tăng cục nghẽn mạch vành dẫn đến nhồi máu cơ tim (diện tích lớn hơn). Cục nghẽn mạch tạo thành ở trong tim: thường gặp trong nhồi máu cơ tim lan rộng xuyên qua thành tim kèm theo suy tim. Tắc động mạch phổi thường là kết quả của tai biến tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới hoặc nghẽn mạch buồng tim phải.

Vỡ tim:
Gặp trong 5 – 10% trường hợp, xảy ra chủ yếu tuần thứ hai. Thường gặp ở thất trái dẫn đến tràn máu màng ngoài tim làm chết đột ngột hoặc chết nhanh chóng do trụy tim mạch. Vỡ vách liên thất biểu hiện bằng một tiếng thổi tâm thu ở giữa tim, có cường độ mạnh, kèm theo rung mui và suy tim phải cấp tính dẫn đến trụy mạch.

Đứt cột tim (ít gặp): khi bộ van hai lá bị vỡ sẽ gây ra tổn thương van hai lá nặng không hồi phục.

Chết đột ngột: Gặp trong 10% trường hợp. Thường là hậu quả của những thể nặng, nhất là ở tuần lễ đầu. Nguyên nhân chết đột ngột có thể do cơn nhịp nhanh thất, rung thất, tắc mạch phổi lớn, vỡ tim, trụy mạch nặng.

Biến chứng thứ phát

Hội chứng Dressler gặp từ 3 – 4% trường hợp, xuất hiện từ 1 – 4 tuần sau khi bệnh khởi phát. Biểu hiện lâm sàng là hội chứng viêm màng ngoài tim: đau sau xương ức, đau tăng lên khi thở sâu, khi ho, khi vận động, giảm bớt khi ngồi hoặc cúi về đằng trước. Nghe có thể phát hiện tiếng cọ màng ngoài tim. Tràn dịch màng phổi, thâm nhiễm phổi. Chụp Xquang lồng ngực: hình ảnh tràn dịch màng ngoài tim và màng phổi. Điện tâm đồ: không có dấu hiệu hoại tử lan rộng và tái phát (dùng để chẩn đoán phân biệt với nhồi máu cơ tim).

Xét nghiệm máu:
bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, tốc độ máu lắng tăng. Điều trị bằng cocticoid có thể khỏi nhanh hơn. Tuy nhiên hội chứng dễ tái phát và khi tái phát nhiều sẽ trở nên rất phiền phức cho người bệnh.

Biến chứng muộn

Các chứng đau:

Những người có tiền căn đau thắt ngực, tiền căn nhồi máu cơ tim, những người có nguy cơ nhiều về nhồi máu cơ tim (như xơ vữa mạch vành, bị nhiều cơn tăng huyết áp, đái tháo đường, mập phì, rối loạn lipid máu, nghiện thuốc lá) nếu chớm có triệu chứng là phải xử lý bất động, giảm đau ngay và chuyển ngay bệnh nhân đến bệnh viện bằng xe chuyên dụng cấp cứu tim mạch. Có như thế mới hạn chế được các biến chứng và tử vong do nhồi máu cơ tim.
– Đau thần kinh nhạy cảm: Là các cơn đau ngực lan tỏa, cường độ trung bình, giống như cảm giác đau ê ẩm, nặng nề ở vùng trước tim. Những người có chứng đau này thường là những người hay lo lắng, đồng thời bị suy nhược về thể lực và tâm thần. Liệu pháp tâm lý và các thuốc trấn tĩnh thường có thể giải quyết được.

– Đau kiểu thấp khớp:
Thường gọi là viêm quanh khớp vai cánh tay, hội chứng vai – bàn tay, hay gặp ở vai và tay trái. Đôi khi chữa bằng các thuốc giảm đau thông thường cũng khỏi. Một số trường hợp phải dùng cocticoid. Tránh tiêm thuốc vào trong khớp nhất là khi bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông.

Trong một số trường hợp nhồi máu cơ tim thoái triển có thể gặp xơ cứng cân gân tay, co rút và có thể dẫn đến Dupuytren.

– Chứng đau thắt ngực sau nhồi máu cơ tim: khi có dấu hiệu nhồi máu cơ tim tái phát, phải điều trị như nhồi máu cơ tim cấp.

Phồng vách tim:
Là hậu quả xa của nhồi máu xuyên thành tim. Biểu hiện: nghe tim có tiếng đập phụ ở thì tâm thu, trên mỏm tim. Xquang thấy hình ảnh một cung giãn nở thì tâm thu, chủ yếu ở bờ trái. Điện tâm đồ: có sự tồn tại của dấu hiệu “tổn thương”, đồng thời với dấu hiệu hoại tử.

Làm gì để hạn chế biến chứng do nhồi máu cơ tim?

Quy tắc khẩn trương được coi là số 1 trong nguyên lý điều trị nhồi máu cơ tim vì 2 lý do:

– Tử vong của nhồi máu cơ tim xảy ra với tỷ lệ cao nhất chính là vào giờ đầu tiên, rồi ngày đầu của nhồi máu cơ tim và cơ bản do rối loạn nhịp tim – một biến chứng nặng nhất của nhồi máu cơ tim lại xảy ra rất bất thần và dễ gây tử vong nhất là rung thất. Các ngoại tâm thu thất có thể chuyển nhanh thành rung thất, cần ứng phó cực kỳ khẩn trương.

– Biện pháp điều trị cơ bản hữu hiệu nhất đối với nhồi máu cơ tim lại chỉ sẽ có tác dụng nếu tiến hành sớm, nhất là biện pháp làm “tan huyết khối mạch vành” bằng các thuốc tiêu sợi huyết, đặc hiệu trong 2 giờ đầu tiên hoặc 4 giờ đầu tiên của nhồi máu cơ tim, quá 6 giờ thì không tác dụng nữa vì vùng hoại tử đã lan toàn bộ bề dày của thành tâm thất, gọi là nhồi máu cơ tim xuyên thành. Chính vì thế bằng giá nào cũng phải chuyển bệnh nhân nhồi máu cơ tim đến bệnh viện chuyên về tim mạch hoặc khu chăm sóc đặc biệt càng sớm càng tốt. Thời gian đến được bệnh viện sớm hay muộn có ý nghĩa sống còn. Vì chỉ có ở những nơi này mới đảm bảo chẩn đoán chắc chắn và điều trị đúng quy tắc hạn chế biến chứng và tử vong, kể cả những giờ sau, ngày sau, tuần sau của nhồi máu cơ tim, khi mà loại biến chứng khác là suy tim truỵ mạch, sốc tim lại thường xảy ra. Ngay khi nằm viện vẫn nên nhớ nhồi máu cơ tim là bệnh rất nặng, dễ biến chứng chết người.

BS. Nguyễn Văn Kiểm
Theo sức khỏe đời sống