Xử trí và điều trị nghẽn mạch phổi

Ngày: 14-02-2011

Động mạch phổi bị tắc một phần hay hoàn toàn của một trong các nhánh của nó, hay gặp nhất là do một cục máu đông gây nên gọi là nghẽn mạch phổi. Bệnh thường xảy ra nhưng chẩn đoán vẫn khó, do biểu hiện đa dạng và do tính chất không đặc hiệu của các triệu chứng. Nếu không điều trị, tỷ lệ tử vong tới 40%.


Xử trí và điều trị nghẽn mạch phổi

Nếu bệnh nhân hoặc người nhà thấy có những dấu hiệu nghi ngờ bị nghẽn mạch phổi cần gọi ngay xe cấp cứu. Trong khi chờ đợi xe cấp cứu, người bệnh phải nằm im, tránh cử động chân hoặc ngồi dậy, vì như thế có thể gây nghẽn mạch ở các điểm khác nữa. Nếu có điều kiện (bác sĩ đến nhà) thì tại nhà bệnh nhân cần được cho thở ôxy, làm điện tâm đồ, thuốc giảm đau, tiêm tức thời héparine bằng đường tĩnh mạch khi có chẩn đoán gần như chắc chắn.

Vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện bằng xe cứu thương để đảm bảo hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn. Bệnh nhân phải nhập viện để được theo dõi bệnh. Cần chụp Xquang phổi và các động mạch phổi.

Trường hợp nặng, bệnh nhân cần phải thở ôxy nguyên chất, uống thuốc làm tan những cục máu đông.

Trường hợp nhẹ, bệnh nhân vẫn cần phải nằm lại bệnh viện để chụp phổi và các động mạch, làm điện tâm đồ, siêu âm có thể phát hiện được cục máu đông được hình thành ở chân nào và đã gây ra tắc nghẽn từ đâu. Tiêm thuốc chống đông máu héparine trong vài ngày sẽ làm cho cục máu đông trong máu bị tan và máu lại lưu thông trong các động mạch phổi.

Siêu âm có thể giúp bác sĩ xác định nghẽn mạch đã hết. Tuy vậy, bệnh nhân vẫn cần phải uống thuốc chống đông máu (kháng vitamin K) ít nhất là 6 tháng. Sau khi hết nghẽn mạch, bệnh nhân vẫn cần được xét nghiệm máu để tìm  nguyên nhân gây nghẽn mạch phổi. Nếu có biểu hiện bất thường ở máu do di truyền, bệnh nhân cần phải uống thuốc đề phòng bệnh trong thời gian lâu dài.

Nghẽn mạch phổi có thể do nguyên nhân từ một căn bệnh như thiếu hồng huyết cầu, bệnh ung thư… Nếu đã dùng thuốc chống đông máu mà vẫn bị nghẽn mạch phổi, có thể phải phẫu thuật để đặt thiết bị lọc vào tĩnh mạch chủ bụng của bệnh nhân, qua đường tĩnh mạch ở cánh tay, ở cổ hoặc ở nếp háng. Ở tuyến điều trị cao, người ta có thể sử dụng các kỹ thuật hiện đại như điện tâm đồ liên tục, siêu âm tim, khí huyết động mạch, chụp xạ đồ phổi, thông tim…

ThS. Trần Quốc An
Theo sức khỏe đời sống